TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
PHẠM PHÚ THỨ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II
TỔ NGỮ VĂN NĂM HỌC 2025-2026
GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT Môn: Ngữ văn, lớp 11
I. KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG
1. Phần Đọc hiểu: Văn bản kí/ Văn bản thông tin
a. Văn bản kí.
* Đọc hiểu nội dung
- Nhận biết đề tài, cái tôi trữ tình, kết cấu, chi tiết trong văn bản.
- Biết phân tích nhân vật, người kể chuyện và mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề.
- Phân tích và đánh giá được cảm hứng chủ đạo mà người viết thể hiện qua văn bản. Phát hiện được các giá trị đạo đức, văn hoá từ văn bản.
* Đọc hiểu hình thức
- Phân tích được ý nghĩa của sự kết hợp giữa yếu tự sự và trữ tình trong tùy bút, tản văn; giữa hư cấu và hư cấu trong truyện kí.
* Liên hệ, so sánh, kết nối
- Nhận biết và phân tích được bối cảnh lịch sử – văn hoá được thể hiện trong văn bản văn học.
- Liên hệ để thấy được một số điểm gần gũi về nội dung giữa các tác phẩm văn học thuộc hai nền văn hoá khác nhau.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm văn học đối với quan niệm, cách nhìn, cách nghĩ và tình cảm của người đọc; thể hiện được cảm xúc và sự đánh giá của cá nhân về tác phẩm.
b. Văn bản thông tin.
* Đọc hiểu nội dung
- Biết suy luận và phân tích mối liên hệ giữa các chi tiết và vai trò của chúng trongviệc thể hiện thông tin chính của văn bản.
- Phân tích và đánh giá được đề tài, thông tin cơ bản của văn bản, cách đặt nhan đề của tác giả; nhận biết được mục đích, thái độ, quan điểm của người viết và giả thích lí do.
- Đánh giá được mức độ đáng tin cậy, tính chính xác của thông tin, tri thức trong văn bản.
-Thể hiện được thái độ đồng tình hay không đồng tình với nội dung văn bản, quan niệm của người viết.
* Đọc hiểu hình thức
- Nhận biết được bố cục, mạch lạc của văn bản, cách trình bày dữ liệu, thông tin của người viết và đánh giá hiệu quả đạt được.
- Phân tích và đánh giá được tác dụng các yếu tố hình thức như nhan đề, đề mục, sơ đồ,…
- Phân tích và đánh giá được tác dụng các của phương tiện phi ngôn ngữ trong việc tăng hiệu quả biểu đạt của văn bản thông tin.
* Liên hệ, so sánh, kết nối
- Nhận biết và phân tích được bối cảnh lịch sử – văn hoá được thể hiện trong văn bản văn học.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm văn học đối với quan niệm, cách nhìn, cách nghĩ và tình cảm của người đọc; thể hiện được cảm xúc và sự đánh giá của cá nhân về tác phẩm.
2. Phần viết:
a. Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên.
* Mở bài:
- Giới thiệu sự vật, hiện tượng trong tự nhiên được thuyết minh
- Nêu thông tin khái quát về sự vật, hiện tượng đó
* Thân bài:
- Chọn lọc, sắp xếp và triển khai các ý đã tìm được theo một trình tự hợp lí, tuỳ thuộc vào định hướng cung cấp thông tin cho người viết
- Xác định các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận có thể đưa vào vị trí thích hợp để tăng hiệu quả biểu đạt.
- Cần dự kiến cả những phương tiện phi ngôn ngữ có thể sử dụng trong văn bản giúp cho nội dung thuyết minh được sinh động, hấp dẫn
* Kết bài
- Khái quát ý nghĩa của sự vật, hiện tượng được đề cập, gợi mở những ý tưởng có thể nối tiếp.
b. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật.
* Mở bài
- Giới thiệu tác phẩm ( tên tác phẩm, tác giả (nghệ sĩ), thể loại, hoàn cảnh sáng tác (nếu có)).
- Nêu ấn tượng chung: Đánh giá khái quát về giá trị nổi bật của tác phẩm (ví dụ: một bức tranh về tình mẹ, một bài hát về quê hương...).
* Thân bài
- Mô tả/Tóm tắt sơ lược: Nêu những thông tin cơ bản, bối cảnh hoặc nội dung chính mà tác phẩm thể hiện.
- Phân tích nội dung và tư tưởng:
+ Tác phẩm thể hiện chủ đề gì? Thông điệp, ý nghĩa sâu xa mà tác giả muốn gửi gắm là gì?
+ Những hình tượng nghệ thuật, nhân vật được xây dựng như thế nào?
- Phân tích đặc sắc nghệ thuật:
+ Đối với hội họa/điêu khắc: Bố cục, màu sắc, đường nét, ánh sáng, chất liệu.
+ Đối với âm nhạc/điện ảnh: Giai điệu, tiết tấu, lời ca, góc quay, diễn xuất, âm thanh.
- Đánh giá, bình luận:
+ Tác phẩm gợi cho người xem/nghe cảm xúc gì?
+ Sự độc đáo, sáng tạo của tác giả so với các tác phẩm cùng thể loại.
* Kết bài
- Khẳng định giá trị: Khẳng định lại ý nghĩa, tầm vóc của tác phẩm đối với nghệ thuật và cuộc sống.
- Bài học/Ấn tượng sâu sắc: Suy nghĩ riêng của bản thân sau khi tiếp nhận tác phẩm.
II. CẤU TRÚC VÀ HÌNH THỨC KIỂM TRA
1. Thời gian: 90 phút
2. Hình thức kiểm tra: tự luận 100%
3. Cấu trúc: 2 phần
* Phần I: Đọc hiểu (6 điểm)
- Nội dung: Câu hỏi trong phần đọc hiểu xoay quanh các yêu cầu cần đạt liên quan đến thể loại kí và văn bản thông tin.
- Hình thức: 6 câu hỏi tự luận được sắp xếp theo các mức độ (gồm 02 câu Nhận biết, 03 câu Thông hiểu, 01 câu Vận dụng)
* Phần II: Viết (4 điểm):
Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên/ Viết bài văn nghị luận bàn về một tác phẩm nghệ thuật.
III. ĐỀ MINH HOẠ
* ĐỀ 1
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
HOA TRÁI QUANH TÔI
(Trích - Hoàng Phủ Ngọc Tường)
[Lược dẫn: Ở Huế, Bà Lan Hữu có một khu vườn rất đẹp gọi là An Hiên. Tác giả là người quen thân với bà Lan Hữu, thường xuyên tới khu vườn chơi và ghi lại những cảm nhận của mình về vẻ đẹp của khu vườn xuyên suốt bốn mùa trong năm. Đoạn trích là cảm nhận của tác giả về các loài hoa trong khu vườn An Hiên vào mùa xuân]
Tháng Ba…Khi các màu sắc trong khu vườn đã quá độ mãn khai của chúng vào tiết Xuân, lùi lại dần trong cảm giác quen mắt, thì bắt đầu tháng Ba, hoa lê nở. Năm ấy tôi về muộn, sau một chuyến đi dài. […]
Tôi về Huế, lên An Hiên. Bà Lan Hữu đang ở sau vườn. Bà mặc bộ bà ba lụa trắng, mãi ngắm cây thanh trà vừa ra trái mùa đầu, trái non kết từng chùm tròn, sai như chẽ cau. Tôi về bất ngờ, bà
rất vui,[...]
[...]
Uống trà xong, tôi đi dạo quanh vườn. Vườn bà Lan Hữu bao giờ cũng sạch, không hề có một mảnh giấy vương vãi, chỉ cỏ lơ thơ và lá khô. Đã quá giữa Xuân, cam, bưởi, thanh trà đã già mùa hoa, tỏa lan khắp vườn một mùi hương rộng rãi, sung thiệm, sâu vào tận phổi và hình như còn bay xa qua những khu vườn khác. Lâu nay vì xem chúng là cây ăn quả, tôi vẫn nghe hương thơm của chúng một cách như ngẫu nhiên. Bây giờ tôi mới lưu ý tới điều này rằng cái họ cam - chanh - bưởi này, trước khi cho quả, chúng đã mang đến cho con người một mùa hoa thực sự của riêng chúng, với đầy đủ tư cách là hoa, cũng giống như hoa hồng vậy.
Tôi đi vòng lại góc sân, nơi đó có cây lê đang nở hoa. Trên những cành thẳng có những chấm mắt nhỏ gồ ghề dáng đốt trúc, mấy chùm hoa trắng điểm lên ít lá non xanh mơn mởn, bóng loáng. Cành to khỏe, hoa chỉ điểm năm ba chùm, nhưng người ta không cảm thấy là ít, hình như hoa lê sợ sự thừa thãi. Dưới trời quang đãng của tiết Xuân muộn, trong nắng trong gió, những chùm hoa rung động nhẹ trước mắt tôi giống như bướm trắng, nhưng là những cánh bướm bay đến từ một cõi trời nào khác. Bà Lan Hữu đang đứng bên thềm, loay hoay buộc mấy cành hoa tường vi lên giàn.
Bà ngẩng lên, nói với tôi:
- Hoa lê nở dưới trăng càng bộc lộ hết cái thần của nó. Người xưa khen hoa này là biết tự cảm ở nơi tịch mịch.
Tôi ngồi bệt xuống thềm, duỗi chân, nhìn lan man ra vườn. Vườn măng cụt đang nẩy lộc chi chít, trên ngọn mỗi chùm lá đều chĩa ra một cặp lá non thật nhọn hình cánh chim, tưởng chừng có ngàn vạn con chim anh vũ đang giấu mình dưới lá, đôi cánh biếc của chúng xòe ra ở đầu cành. Cảnh vật trước mắt làm tôi xúc động: nơi trang thơ của Nguyễn Du đã đọc, tôi nhớ lại một ngày thanh minh trời đẹp như thế này, cành hoa trắng kia đã làm chứng cho một tình yêu xán lạn, cũng là làm chứng cho khát vọng lớn của tâm hồn nhà thơ trước cuộc sống. Tôi hài lòng đã trở về. Như vậy thôi, tôi hiểu ở thành phố này, sự yên tĩnh cũng giống như lòng mẹ, không có gì đồng nghĩa với sự yên nghỉ.
Với bà Lan Hữu, vườn An Hiên không chỉ là nơi ở, mà còn là một cuốn tự truyện viết bằng nét chữ của cây cỏ. Tôi cảm thấy như đọc thêm nhiều điều ở đấy, khi biết thêm ít nhiều những chi tiết về đời riêng của bà chủ nó. […] Cây cỏ đã nói với bà điều gì, không ai biết, nhưng chắc không phải là chuyện quên đời. Bà chăm chút khu vườn với tất cả ý thức văn hoá, giống như nghề dạy học mà bà đã phải từ bỏ và đã nhận lại từ cây cối những lời ngụ ngôn thầm lặng.
(In trong Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tập 2, NXB Trẻ, 2002, Tr.380-385)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1.(0.75 điểm) Xác định đối tượng được đề cập đến trong đoạn trích.
Câu 2.(0.75 điểm) Trong đoạn trích, vườn An Hiên có ý nghĩa như thế nào với bà Lan Hữu?
Câu 3. (1.0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn sau: Dưới trời quang đãng của tiết Xuân muộn, trong nắng trong gió, những chùm hoa rung động nhẹ trước mắt tôi giống như bướm trắng, nhưng là những cánh bướm bay đến từ một cõi trời nào khác.
Câu 4. (1.0 điểm) Nêu tác dụng của sự kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn trích.
Câu 5. (1.0 điểm) Qua đoạn trích, anh/chị có nhận xét gì về “cái tôi trữ tình” của tác giả?
Câu 6. (1.5 điểm) Từ cách chăm chút cho vườn An Hiên của bà Lan Hữu trong văn bản, anh/chị có suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên? (Trả lời khoảng 5-7 câu)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh/Chị hãy viết bài văn thuyết minh ( khoảng 600 chữ) về bãi biển Mỹ Khê của quê hương Đà Nẵng.
* ĐỀ 2
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Khám phá làng gốm truyền thống Biên Hòa - Đồng Nai
Gốm Biên Hòa - Đồng Nai là sự hòa quyện tài tình giữa đất, nước và lửa, tạo nên những sản phẩm đặc trưng bản sắc, điểm tô cho văn hóa Việt.
Hình ảnh: Một góc xưởng gốm Biên Hòa – Đồng Nai
Nói đến gốm mỹ nghệ Biên Hòa là nói đến sự kết hợp khéo léo nghệ thuật giữa Tây và ta, giữa cũ và mới, là sự kết tinh giữa kinh nghiệm làm gốm thủ công cổ truyền điêu luyện với kỹ thuật hiện đại của công nghệ Pháp. Tuy nhiên, cái cốt lõi, cái hồn vẫn nằm ở nguyên liệu đất bản địa đặc trưng và men thực vật truyền thống do các nghệ nhân Biên Hòa tạo nên.
Hai yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của gốm Biên Hòa là nguồn nguyên liệu cao lanh và đất sét màu chất lượng cao cộng với trình độ của đội ngũ thợ gốm có tay nghề. Có thể nói, tài nghệ của thợ gốm Biên Hòa chính là ở chỗ họ đã tiếp thu, hòa nhập được những nét tinh hoa của các nền văn hóa trong các sản phẩm của mình. Quy trình sản xuất một sản phẩm gốm trước hết qua khâu tạo dáng trên bàn xoay hoặc trong khuôn, được trang trí vẽ chìm, đắp nổi hoặc trổ thủng sau đó phủ men màu lên những phần đã trang trí trước khi đưa vào lò nung.
Độ lửa, chấm men và kỹ thuật khắc đã làm nên sự hấp dẫn kỳ lạ, độc đáo cho gốm Biên Hòa. Chỉ tiếc rằng, các kỹ thuật men truyền thống như trắng tàu, đỏ đá và đặc biệt là men xanh trổ đồng và loại gốm đất đen ở Biên Hòa xưa giờ đây đang có nguy cơ bị mai một, rất cần được tập hợp, nghiên cứu và lưu giữ.
Làm cách nào để phục hồi, một khi những nghệ nhân am tường kỹ thuật chế tác cũng mất đi? Để vực dậy gốm Biên Hòa cần sự chung tay của chính quyền với những chính sách hợp lý cùng những người tâm huyết với nghề gốm. Nhiều nghệ sĩ trẻ làm gốm đã thể hiện tính sáng tạo tốt, hình thức tạo hình tuyệt vời góp phần đưa gốm truyền thống Biên Hòa trở lại. Hy vọng trong tương lai, làng gốm Biên Hòa sẽ tìm lại được hồn gốm của một làng nghề vang danh thế giới những tháng năm trước.
(Theo Anh Vũ, https:// thoidai.com/kham-pha-lang-gom-truyen-thong-bien-hoa-dong-nai, ngày 09/06/2022)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,75 điểm) Xác định thông tin chính của văn bản trên.
Câu 2. (0,75 điểm) Hai yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của gốm Biên Hòa được nêu trong văn bản là gì?
Câu 3. (1,0 điểm) Tác giả sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ có ý nghĩa gì trong việc biểu đạt nội dung của văn bản?
Câu 4. (1,0 điểm) Tác dụng của cách đặt nhan đề trong văn bản.
Câu 5. (1,0 điểm) Theo anh/chị, tác giả đã thể hiện tình cảm, thái độ như thế nào trong văn bản?
Câu 6. (1,5 điểm) Anh/Chị có đồng tình với ý kiến: Để vực dậy gốm Biên Hòa cần sự chung tay của chính quyền với những chính sách hợp lý cùng những người tâm huyết với nghề gốm hay không? Vì sao? (Trả lời trong khoảng 5-7 câu)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận ( khoảng 600 chữ) bàn về một tác phẩm nghệ thuật mà bản thân yêu thích.
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
PHẠM PHÚ THỨ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II
TỔ NGỮ VĂN NĂM HỌC 2025-2026
GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT Môn: Ngữ văn, lớp 11
I. KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG
1. Phần Đọc hiểu: Văn bản kí/ Văn bản thông tin
a. Văn bản kí.
* Đọc hiểu nội dung
- Nhận biết đề tài, cái tôi trữ tình, kết cấu, chi tiết trong văn bản.
- Biết phân tích nhân vật, người kể chuyện và mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề.
- Phân tích và đánh giá được cảm hứng chủ đạo mà người viết thể hiện qua văn bản. Phát hiện được các giá trị đạo đức, văn hoá từ văn bản.
* Đọc hiểu hình thức
- Phân tích được ý nghĩa của sự kết hợp giữa yếu tự sự và trữ tình trong tùy bút, tản văn; giữa hư cấu và hư cấu trong truyện kí.
* Liên hệ, so sánh, kết nối
- Nhận biết và phân tích được bối cảnh lịch sử – văn hoá được thể hiện trong văn bản văn học.
- Liên hệ để thấy được một số điểm gần gũi về nội dung giữa các tác phẩm văn học thuộc hai nền văn hoá khác nhau.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm văn học đối với quan niệm, cách nhìn, cách nghĩ và tình cảm của người đọc; thể hiện được cảm xúc và sự đánh giá của cá nhân về tác phẩm.
b. Văn bản thông tin.
* Đọc hiểu nội dung
- Biết suy luận và phân tích mối liên hệ giữa các chi tiết và vai trò của chúng trongviệc thể hiện thông tin chính của văn bản.
- Phân tích và đánh giá được đề tài, thông tin cơ bản của văn bản, cách đặt nhan đề của tác giả; nhận biết được mục đích, thái độ, quan điểm của người viết và giả thích lí do.
- Đánh giá được mức độ đáng tin cậy, tính chính xác của thông tin, tri thức trong văn bản.
-Thể hiện được thái độ đồng tình hay không đồng tình với nội dung văn bản, quan niệm của người viết.
* Đọc hiểu hình thức
- Nhận biết được bố cục, mạch lạc của văn bản, cách trình bày dữ liệu, thông tin của người viết và đánh giá hiệu quả đạt được.
- Phân tích và đánh giá được tác dụng các yếu tố hình thức như nhan đề, đề mục, sơ đồ,…
- Phân tích và đánh giá được tác dụng các của phương tiện phi ngôn ngữ trong việc tăng hiệu quả biểu đạt của văn bản thông tin.
* Liên hệ, so sánh, kết nối
- Nhận biết và phân tích được bối cảnh lịch sử – văn hoá được thể hiện trong văn bản văn học.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm văn học đối với quan niệm, cách nhìn, cách nghĩ và tình cảm của người đọc; thể hiện được cảm xúc và sự đánh giá của cá nhân về tác phẩm.
2. Phần viết:
a. Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên.
* Mở bài:
- Giới thiệu sự vật, hiện tượng trong tự nhiên được thuyết minh
- Nêu thông tin khái quát về sự vật, hiện tượng đó
* Thân bài:
- Chọn lọc, sắp xếp và triển khai các ý đã tìm được theo một trình tự hợp lí, tuỳ thuộc vào định hướng cung cấp thông tin cho người viết
- Xác định các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận có thể đưa vào vị trí thích hợp để tăng hiệu quả biểu đạt.
- Cần dự kiến cả những phương tiện phi ngôn ngữ có thể sử dụng trong văn bản giúp cho nội dung thuyết minh được sinh động, hấp dẫn
* Kết bài
- Khái quát ý nghĩa của sự vật, hiện tượng được đề cập, gợi mở những ý tưởng có thể nối tiếp.
b. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật.
* Mở bài
- Giới thiệu tác phẩm ( tên tác phẩm, tác giả (nghệ sĩ), thể loại, hoàn cảnh sáng tác (nếu có)).
- Nêu ấn tượng chung: Đánh giá khái quát về giá trị nổi bật của tác phẩm (ví dụ: một bức tranh về tình mẹ, một bài hát về quê hương...).
* Thân bài
- Mô tả/Tóm tắt sơ lược: Nêu những thông tin cơ bản, bối cảnh hoặc nội dung chính mà tác phẩm thể hiện.
- Phân tích nội dung và tư tưởng:
+ Tác phẩm thể hiện chủ đề gì? Thông điệp, ý nghĩa sâu xa mà tác giả muốn gửi gắm là gì?
+ Những hình tượng nghệ thuật, nhân vật được xây dựng như thế nào?
- Phân tích đặc sắc nghệ thuật:
+ Đối với hội họa/điêu khắc: Bố cục, màu sắc, đường nét, ánh sáng, chất liệu.
+ Đối với âm nhạc/điện ảnh: Giai điệu, tiết tấu, lời ca, góc quay, diễn xuất, âm thanh.
- Đánh giá, bình luận:
+ Tác phẩm gợi cho người xem/nghe cảm xúc gì?
+ Sự độc đáo, sáng tạo của tác giả so với các tác phẩm cùng thể loại.
* Kết bài
- Khẳng định giá trị: Khẳng định lại ý nghĩa, tầm vóc của tác phẩm đối với nghệ thuật và cuộc sống.
- Bài học/Ấn tượng sâu sắc: Suy nghĩ riêng của bản thân sau khi tiếp nhận tác phẩm.
II. CẤU TRÚC VÀ HÌNH THỨC KIỂM TRA
1. Thời gian: 90 phút
2. Hình thức kiểm tra: tự luận 100%
3. Cấu trúc: 2 phần
* Phần I: Đọc hiểu (6 điểm)
- Nội dung: Câu hỏi trong phần đọc hiểu xoay quanh các yêu cầu cần đạt liên quan đến thể loại kí và văn bản thông tin.
- Hình thức: 6 câu hỏi tự luận được sắp xếp theo các mức độ (gồm 02 câu Nhận biết, 03 câu Thông hiểu, 01 câu Vận dụng)
* Phần II: Viết (4 điểm):
Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên/ Viết bài văn nghị luận bàn về một tác phẩm nghệ thuật.
III. ĐỀ MINH HOẠ
* ĐỀ 1
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
HOA TRÁI QUANH TÔI
(Trích - Hoàng Phủ Ngọc Tường)
[Lược dẫn: Ở Huế, Bà Lan Hữu có một khu vườn rất đẹp gọi là An Hiên. Tác giả là người quen thân với bà Lan Hữu, thường xuyên tới khu vườn chơi và ghi lại những cảm nhận của mình về vẻ đẹp của khu vườn xuyên suốt bốn mùa trong năm. Đoạn trích là cảm nhận của tác giả về các loài hoa trong khu vườn An Hiên vào mùa xuân]
Tháng Ba…Khi các màu sắc trong khu vườn đã quá độ mãn khai của chúng vào tiết Xuân, lùi lại dần trong cảm giác quen mắt, thì bắt đầu tháng Ba, hoa lê nở. Năm ấy tôi về muộn, sau một chuyến đi dài. […]
Tôi về Huế, lên An Hiên. Bà Lan Hữu đang ở sau vườn. Bà mặc bộ bà ba lụa trắng, mãi ngắm cây thanh trà vừa ra trái mùa đầu, trái non kết từng chùm tròn, sai như chẽ cau. Tôi về bất ngờ, bà
rất vui,[...]
[...]
Uống trà xong, tôi đi dạo quanh vườn. Vườn bà Lan Hữu bao giờ cũng sạch, không hề có một mảnh giấy vương vãi, chỉ cỏ lơ thơ và lá khô. Đã quá giữa Xuân, cam, bưởi, thanh trà đã già mùa hoa, tỏa lan khắp vườn một mùi hương rộng rãi, sung thiệm, sâu vào tận phổi và hình như còn bay xa qua những khu vườn khác. Lâu nay vì xem chúng là cây ăn quả, tôi vẫn nghe hương thơm của chúng một cách như ngẫu nhiên. Bây giờ tôi mới lưu ý tới điều này rằng cái họ cam - chanh - bưởi này, trước khi cho quả, chúng đã mang đến cho con người một mùa hoa thực sự của riêng chúng, với đầy đủ tư cách là hoa, cũng giống như hoa hồng vậy.
Tôi đi vòng lại góc sân, nơi đó có cây lê đang nở hoa. Trên những cành thẳng có những chấm mắt nhỏ gồ ghề dáng đốt trúc, mấy chùm hoa trắng điểm lên ít lá non xanh mơn mởn, bóng loáng. Cành to khỏe, hoa chỉ điểm năm ba chùm, nhưng người ta không cảm thấy là ít, hình như hoa lê sợ sự thừa thãi. Dưới trời quang đãng của tiết Xuân muộn, trong nắng trong gió, những chùm hoa rung động nhẹ trước mắt tôi giống như bướm trắng, nhưng là những cánh bướm bay đến từ một cõi trời nào khác. Bà Lan Hữu đang đứng bên thềm, loay hoay buộc mấy cành hoa tường vi lên giàn.
Bà ngẩng lên, nói với tôi:
- Hoa lê nở dưới trăng càng bộc lộ hết cái thần của nó. Người xưa khen hoa này là biết tự cảm ở nơi tịch mịch.
Tôi ngồi bệt xuống thềm, duỗi chân, nhìn lan man ra vườn. Vườn măng cụt đang nẩy lộc chi chít, trên ngọn mỗi chùm lá đều chĩa ra một cặp lá non thật nhọn hình cánh chim, tưởng chừng có ngàn vạn con chim anh vũ đang giấu mình dưới lá, đôi cánh biếc của chúng xòe ra ở đầu cành. Cảnh vật trước mắt làm tôi xúc động: nơi trang thơ của Nguyễn Du đã đọc, tôi nhớ lại một ngày thanh minh trời đẹp như thế này, cành hoa trắng kia đã làm chứng cho một tình yêu xán lạn, cũng là làm chứng cho khát vọng lớn của tâm hồn nhà thơ trước cuộc sống. Tôi hài lòng đã trở về. Như vậy thôi, tôi hiểu ở thành phố này, sự yên tĩnh cũng giống như lòng mẹ, không có gì đồng nghĩa với sự yên nghỉ.
Với bà Lan Hữu, vườn An Hiên không chỉ là nơi ở, mà còn là một cuốn tự truyện viết bằng nét chữ của cây cỏ. Tôi cảm thấy như đọc thêm nhiều điều ở đấy, khi biết thêm ít nhiều những chi tiết về đời riêng của bà chủ nó. […] Cây cỏ đã nói với bà điều gì, không ai biết, nhưng chắc không phải là chuyện quên đời. Bà chăm chút khu vườn với tất cả ý thức văn hoá, giống như nghề dạy học mà bà đã phải từ bỏ và đã nhận lại từ cây cối những lời ngụ ngôn thầm lặng.
(In trong Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tập 2, NXB Trẻ, 2002, Tr.380-385)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1.(0.75 điểm) Xác định đối tượng được đề cập đến trong đoạn trích.
Câu 2.(0.75 điểm) Trong đoạn trích, vườn An Hiên có ý nghĩa như thế nào với bà Lan Hữu?
Câu 3. (1.0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn sau: Dưới trời quang đãng của tiết Xuân muộn, trong nắng trong gió, những chùm hoa rung động nhẹ trước mắt tôi giống như bướm trắng, nhưng là những cánh bướm bay đến từ một cõi trời nào khác.
Câu 4. (1.0 điểm) Nêu tác dụng của sự kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn trích.
Câu 5. (1.0 điểm) Qua đoạn trích, anh/chị có nhận xét gì về “cái tôi trữ tình” của tác giả?
Câu 6. (1.5 điểm) Từ cách chăm chút cho vườn An Hiên của bà Lan Hữu trong văn bản, anh/chị có suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên? (Trả lời khoảng 5-7 câu)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh/Chị hãy viết bài văn thuyết minh ( khoảng 600 chữ) về bãi biển Mỹ Khê của quê hương Đà Nẵng.
* ĐỀ 2
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Khám phá làng gốm truyền thống Biên Hòa - Đồng Nai
Gốm Biên Hòa - Đồng Nai là sự hòa quyện tài tình giữa đất, nước và lửa, tạo nên những sản phẩm đặc trưng bản sắc, điểm tô cho văn hóa Việt.
Hình ảnh: Một góc xưởng gốm Biên Hòa – Đồng Nai
Nói đến gốm mỹ nghệ Biên Hòa là nói đến sự kết hợp khéo léo nghệ thuật giữa Tây và ta, giữa cũ và mới, là sự kết tinh giữa kinh nghiệm làm gốm thủ công cổ truyền điêu luyện với kỹ thuật hiện đại của công nghệ Pháp. Tuy nhiên, cái cốt lõi, cái hồn vẫn nằm ở nguyên liệu đất bản địa đặc trưng và men thực vật truyền thống do các nghệ nhân Biên Hòa tạo nên.
Hai yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của gốm Biên Hòa là nguồn nguyên liệu cao lanh và đất sét màu chất lượng cao cộng với trình độ của đội ngũ thợ gốm có tay nghề. Có thể nói, tài nghệ của thợ gốm Biên Hòa chính là ở chỗ họ đã tiếp thu, hòa nhập được những nét tinh hoa của các nền văn hóa trong các sản phẩm của mình. Quy trình sản xuất một sản phẩm gốm trước hết qua khâu tạo dáng trên bàn xoay hoặc trong khuôn, được trang trí vẽ chìm, đắp nổi hoặc trổ thủng sau đó phủ men màu lên những phần đã trang trí trước khi đưa vào lò nung.
Độ lửa, chấm men và kỹ thuật khắc đã làm nên sự hấp dẫn kỳ lạ, độc đáo cho gốm Biên Hòa. Chỉ tiếc rằng, các kỹ thuật men truyền thống như trắng tàu, đỏ đá và đặc biệt là men xanh trổ đồng và loại gốm đất đen ở Biên Hòa xưa giờ đây đang có nguy cơ bị mai một, rất cần được tập hợp, nghiên cứu và lưu giữ.
Làm cách nào để phục hồi, một khi những nghệ nhân am tường kỹ thuật chế tác cũng mất đi? Để vực dậy gốm Biên Hòa cần sự chung tay của chính quyền với những chính sách hợp lý cùng những người tâm huyết với nghề gốm. Nhiều nghệ sĩ trẻ làm gốm đã thể hiện tính sáng tạo tốt, hình thức tạo hình tuyệt vời góp phần đưa gốm truyền thống Biên Hòa trở lại. Hy vọng trong tương lai, làng gốm Biên Hòa sẽ tìm lại được hồn gốm của một làng nghề vang danh thế giới những tháng năm trước.
(Theo Anh Vũ, https:// thoidai.com/kham-pha-lang-gom-truyen-thong-bien-hoa-dong-nai, ngày 09/06/2022)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,75 điểm) Xác định thông tin chính của văn bản trên.
Câu 2. (0,75 điểm) Hai yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của gốm Biên Hòa được nêu trong văn bản là gì?
Câu 3. (1,0 điểm) Tác giả sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ có ý nghĩa gì trong việc biểu đạt nội dung của văn bản?
Câu 4. (1,0 điểm) Tác dụng của cách đặt nhan đề trong văn bản.
Câu 5. (1,0 điểm) Theo anh/chị, tác giả đã thể hiện tình cảm, thái độ như thế nào trong văn bản?
Câu 6. (1,5 điểm) Anh/Chị có đồng tình với ý kiến: Để vực dậy gốm Biên Hòa cần sự chung tay của chính quyền với những chính sách hợp lý cùng những người tâm huyết với nghề gốm hay không? Vì sao? (Trả lời trong khoảng 5-7 câu)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận ( khoảng 600 chữ) bàn về một tác phẩm nghệ thuật mà bản thân yêu thích.


